Thứ Năm tuần 3 thường niên. – Thánh Tôma Aquinô, linh mục, tiến sĩ Hội Thánh.

Lời Chúa: Mc 4, 21-25
Tác giả: Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

* Sinh năm 1225 trong một gia đình quý tộc ở Aquinô, rồi theo học tại đan viện Montê Cátxinô, tiếp đến tại đại học Napôli, cuối cùng Tôma nhập dòng Anh Em Thuyết Giáo và hoàn tất việc học tại Pari và Côlônhơ, dưới sự dẫn dắt của một bậc thánh sư là Anbêtô Cả. Thánh Tôma đã thể hiện trọn vẹn lý tưởng dòng thánh Đaminh là chiêm niệm và truyền đạt cho tha nhân điều mình đã chiêm niệm. Vừa là triết gia, vừa là thần học gia, trong vai trò giáo sư, thánh nhân đã suy nghĩ, giảng dạy và viết rất nhiều. Nhưng trước hết và trên hết, thánh nhân là người chiêm niệm, người đã cầu nguyện nhiều và đã tuân thủ một kỷ luật nghiêm khắc để có thể đạt tới ánh sáng tinh tuyền. Thánh nhân qua đời ngày 7 tháng 3 năm 1274 tại đan viện Xitô ở Phốtxanôva. Ngày 28 tháng Giêng là ngày thi hài thánh nhân được cải táng đưa về Tuludơ năm 1369.

Bấm vào đây để đọc lời Chúa tiếng Anh

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Có ai đem đèn sáng đặt trong thùng hay dưới gầm giường chăng? Chẳng phải là để đặt trên giá đèn sao? Vì chẳng có gì giấu kín mà chẳng tố lộ ra và chẳng có gì kín đáo mà không bị đưa ra ánh sáng. Ai có tai để nghe, thì hãy nghe".

 

Và Người bảo họ rằng: "Hãy coi chừng điều các ngươi nghe thấy. Các ngươi đong bằng đấu nào, thì người ta sẽ đong lại cho các ngươi bằng đấu ấy, và người ta còn thêm nữa. Vì ai có, sẽ được cho thêm; và ai không có, cả cái đang có cũng bị lấy mất".

Bài giảng Thứ Năm tuần 3 thường niên. – Thánh Tôma Aquinô, linh mục, tiến sĩ Hội Thánh.

Tải file tại đây: Bài giảng Thánh lễ Thứ Năm tuần 3 thường niên. – Thánh Tôma Aquinô, linh mục, tiến sĩ Hội Thánh.

Suy Niệm : Đặt trên đế
 

Bài Tin Mừng hôm nay gồm bốn câu có vẻ rời rạc

được Đức Giêsu nói trong những dịp khác nhau.

Thánh Máccô chia bốn câu này thành hai cặp (cc. 21-22 và 24b-25).

Trong mỗi cặp, câu thứ hai được nối với câu thứ nhất bằng chữ “vì”.

Đức Giêsu nhấn mạnh tầm quan trọng của bốn câu nói trên

qua việc Ngài nhắc nhở ta phải nghe một cách nghiêm túc (cc. 23. 24a).

Thầy Giêsu vẫn quen giảng khởi đi từ những chuyện hàng ngày.

Thời xưa, khi chưa có điện, ngọn đèn dầu đem lại ánh sáng cho cả căn nhà.

Bởi vậy không thể nào hiểu được chuyện ai đó thắp đèn lên,

rồi lại đặt nó dưới cái thùng hay gầm giường.

Cứ sự thường phải đặt nó trên đế để soi sáng mọi sự.

Ngọn đèn mà Thầy Giêsu nói ở đây có thể ám chỉ Tin Mừng của Ngài,

và cũng có thể ám chỉ chính Con Người của Ngài.

Tin Mừng ấy không được phép đem giấu đi,

nhưng phải được quảng bá và rao giảng.

Con Người Đức Giêsu không được che kín sau bức màn,

nhưng phải được từ từ vén mở cho mọi người thấy.

Trong sách Tin Mừng theo thánh Máccô,

Đức Giêsu cấm các môn đệ không được nói với ai Ngài là Đức Kitô (8, 30),

vì chữ “Kitô” khiến người ta lầm tưởng Ngài sẽ đứng lên làm cách mạng.

Nhưng vào cuối đời, khi tay không đứng trước vị thượng tế (14, 61-62),

Đức Giêsu đã nhìn nhận tước vị này, vì nó không còn có thể bị hiểu lầm nữa.

Như thế, những gì được tạm thời che giấu, cuối cùng đã được tỏ lộ,

những gì bí ẩn đã được đưa ra ánh sáng (c. 22).

Đức Giêsu là Kitô, nhưng là một Kitô chịu đau khổ như Người Tôi Tớ (Is 53).

Cuộc đời người Kitô hữu, người đã lãnh nhận phép thanh tẩy,

cũng giống như ngọn đèn đã thắp sáng đặt trên đế.

Không được vì bất cứ lý do gì mà che giấu đi:

vì khiêm tốn không muốn cho ai thấy ánh sáng của mình,

hay vì không dám đương đầu với sức mạnh của bóng tối.

Thế giới hôm nay cần những ngọn đèn Kitô hữu.

Hai tỷ Kitô hữu làm nên hai tỷ ngọn đèn.

Ánh sáng bừng lên xua tan bóng tối của dối trá, hận thù, sa đọa.

Ánh sáng đem lại sự ấm áp của cảm thông, an bình và nâng đỡ.

Khi cảm nhận được ánh sáng, người ta sẽ nhận ra được Kitô hữu là ai.

 

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến.

Xin đừng mỉm cười mà nói rằng

Chúa đã ở bên chúng con rồi.

Có cả triệu người chưa biết Chúa.

Nhưng biết Chúa thì được cái gì?

Chúa đến để làm gì

nếu đời sống con cái của Chúa

cứ tiếp tục y như cũ?

Xin hoán cải chúng con.

Xin lay chuyển chúng con.

Ước gì sứ điệp của Chúa

trở nên máu thịt của chúng con,

trở nên lẽ sống của cuộc đời chúng con.

Ước gì sứ điệp đó

lôi chúng con ra khỏi sự an nhiên tự tại,

và đòi buộc chúng con,

làm chúng con không yên.

Bởi lẽ chỉ như thế,

sứ điệp đó mới mang lại cho chúng con

bình an sâu xa,

thứ bình an khác hẳn,

đó là Bình An của Chúa. (Helder Câmara)